Mối tương quan qua lại giữa thị trường than nhập khẩu trong nước và trên thế giới

Mối tương quan qua lại giữa thị trường than nhập khẩu trong nước và trên thế giới

Thị trường than nhập khẩu hiện nay có nhiều biến động do giá cả nhiên liệu tăng giảm chóng mặt. Thị trường than nhập khẩu tại các nước Châu Á có những diễn biến gì? Cùng công ty thanhanoi.com chúng tôi tìm hiểu tình hình nhập khẩu than tại các quốc gia nhé!

Thị trường than nhập khẩu trên thế giới và Việt Nam hiện nay có những vấn đề gì ?

Thị trường than nhập khẩu thế giới trong những năm qua đã chứng kiến nhiều sự biến động, như việc các nhà hoạt động môi trường tẩy chay nhiên liệu này vì gây ô nhiễm môi trường cũng như hiệu ứng nhà kính làm Trái Đất nóng dần lên, hay sự thiếu hụt/ dư thừa nguồn cung cấp than đá vì khoa học kĩ thuật chưa phát triển hoặc tình trạng khai thác than quá mức tại nhiều quốc gia.

Thị trường than nhập khẩu tại khu vực Châu Á có đang ổn định?

Trênthị trường mua than đá nhập khẩu trên thế giới, hai quốc gia đang dẫn đầu hiện nay đó là Ấn Độ và Trung Quốc- đây là hai nước nhập khẩu than từ nước ngoài nhiều nhất hiện nay. Theo các số liệu từ cục Hải quan Trung Quốc, nước này đã nhập khẩu hơn 127.39 triệu tấn than chỉ với hơn 5 tháng đầu năm 2019, có nghĩa là tăng hơn 5% so với sản lượng than nhập vào năm ngoái.. Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu than tại Trung Quốc tăng mạnh do việc hạn chế khai thác than nội địa và đợt nóng bức trong nước, bất chấp giá than tăng lên mức cao nhất trong gần 7 năm qua.

Ngoài 2 quốc gia kể trên, thị trường than nhập khẩu cũng vô cùng sôi động với một đại diện khác đến từ châu Á đó là Nhật Bản. Tuy là quốc gia nhập khẩu than lớn thứ 3 thế giới nhưng do các chính sách hạn chế nhập khẩu cũng như sử dụng than và các nhiên liệu ảnh hưởng tới môi trường nên sản lượng than cập cảng Nhật Bản có xu hướng giảm nhẹ. Theo các báo cáo gần đây, trong 4 tháng đầu năm chỉ có 60 triệu tấn than được nhập khẩu sang thị trường Nhật. Hàn Quốc là quốc gia nhập khẩu than thứ 4 châu Á cũng có dấu hiệu giảm lượng than nhập khẩu vào nước này, trong 4 tháng đầu năm chỉ nhập được khoảng 40 triệu tấn, giảm 8.5% so với cùng kì năm ngoái.

Tuy Nhật Bản và Hàn Quốc giảm mạnh sản lượng than nhập khẩu nhưng ở một số quốc gia đang phát triển tại châu Á lại thu mua than đá tại các quốc gia có trữ lượng than lớn trên thế giới. Tiêu biểu là Việt Nam đã nhập hơn 4.02 triệu tấn trong vòng 3 tháng đầu năm 2019.

Lí do góp phần khiến thị trường than nhập khẩu sôi động là do các mỏ than thế giới khác thác được nhiều than hơn nhu cầu than của người tiêu dùng nên giá thành của than giảm nhằm kích cầu người tiêu dùng. Một yếu tố khác tác động đến giá than đó chính là các quốc gia phát triển đang hướng tới việc sử dụng nguồn nhiên liệu sạch và thân thiện với môi trường thay thế cho việc sử dụng than – nhiên liệu có thể gây nguy hiểm cho môi trường và sức khoẻ của cộng đồng,

Thị trường than nhập khẩu tại Việt Nam khá sôi động vì sản lượng than nội địa không đủ đáp ứng nhu cầu trong nước

Thị trường than nhập khẩu tại Việt Nam hiện nay cũng phát sinh nhiều vấn đề đáng quan tâm, do sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế nước nhà dẫn đến nhu cầu cao về năng lượng. Mặc dù Việt Nam có các mỏ than dồi dào nhưng do hạn chế về khoa học kĩ thuật và phương tiện khai thác than nên các nhà máy sản xuất điện năng, năng lượng, nhà máy xi măng,… phải tăng cường nhập khẩu than từ nước ngoài để kịp đáp ứng cho nhu cầu sản xuất.

Là một trong những nước có trữ lượng than lớn trong khu vực nên Việt Nam vẫn luôn cố gắng phát triển khoa học kĩ thuật trong việc khai thác than nói riêng và ngành than nói chung. Nhà nước đã cho thông qua bản Quy hoạch phát triển ngành than và Kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư để phát triển ngành than đá nước nhà với mục tiêu chính là đáp ứng được nhu cầu về tiêu dùng than trong nước để hạn chế được khoản tiền phải nhập khẩu hàng năm vốn đã quá cao của Việt Nam. Tuy nhà nước đã đề ra các biện pháp để cứu lấy ngành than đá nội địa nhưng những số liệu gần đây đã chỉ ra một tương lai rằng Việt Nam sẽ trở thành quốc gia nhập khẩu than đá vì nếu tập trung khai thác tối đa thì chỉ cung cấp được tối đa 50% sản lượng than mà các nhà máy cần.

Thị trường than nhập khẩu thế giới tạo ra những thách thức gì cho Việt Nam?

Thị trường than nhập khẩu biến động tạo ra những thách thức nhất định cho các hoạt động khai thác và xuất nhập khẩu than của nước ta. Để trở thành một trong những đất nước phát triển mạnh về năng lượng, cũng như là đối tác bền vững của Indonesia, Úc, Nga, Việt Nam cần quan tâm và chú trọng những điều sau đây:

  • Đánh giá kĩ thị trường than trong nước cũng như nghiên cứu các rủi ro khi khai thác than vì khu vực mỏ than ở nước ta thuộc vùng sâu có độ sâu hơn 300 m so với mực nước biển vùng Đông Bắc và hơn 1000m ở lưu vực đồng bằng sông Hồng
  • Nâng cao trình độ chuyên môn cũng như hệ thống máy móc  để phục vụ tốt cho hoạt động khai thác than và quá trình vận chuyển than được hiệu quả hơn trước. Tự động hoá máy móc để đảm bảo an toàn cho các công nhân khai thác mỏ và thu được các thông tin và thông số kĩ thuật chính xác nhất, tránh được những sai sót khi khai thác than và thực hiện các hoạt động logistic.. Huy động về vốn để xây dựng các mỏ than hầm lò để khai thác những khu vực vốn chưa được khai thác để gia tăng năng suất của việc khai thác than nội địa. Song song đó cần nâng cấp hạ tầng logistic để vận chuyển than trong nước và ra nước ngoài hiệu quả và nhanh hơn.
  • Nghiên cứu thị trường than nhập khẩu của thế giới để cập nhật kịp thời giá than cũng như thương thảo thuận lợi với các đối tác quốc tế cung cấp than cho nước ta.

 

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *